Chồng ở nước ngoài có phải về ký giấy tờ khi vợ bán nhà?
Chồng ở nước ngoài có phải về ký giấy tờ khi vợ bán nhà?
Chồng ở nước ngoài có phải về ký giấy tờ khi vợ bán nhà?
Luật pháp quy định rất chi tiết về tài sản chung của vợ chồng. Trong tình huống người vợ muốn bán nhà khi chồng ở nước ngoài, luật sư sẽ nêu rõ hướng giải quyết.
Chị Nguyễn Thị Hảo (35 tuổi, ở TP Hà Nội) hỏi: ''Trước đây, vợ chồng tôi có mua một căn nhà. Chúng tôi cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Hiện nay, chồng tôi đã đi nước ngoài, còn tôi sẽ xuất cảnh sau. Nếu tôi muốn bán căn nhà này thì chồng tôi có bắt buộc phải về Việt Nam để ký giấy tờ hay không?''
Ảnh minh họa.
Luật sư Vũ Anh Tuấn – Văn phòng Luật sư Trung Hòa (TP Hà Nội) trả lời: Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nếu căn nhà là tài sản chung của vợ chồng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đứng tên cả hai người thì việc bán nhà được xem là hành vi định đoạt tài sản chung. Do đó, việc bán nhà bắt buộc phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng.
Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra; thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng; thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp thuộc khoản 1 Điều 40 của Luật này.
Ngoài ra, tài sản được thừa kế chung, được tặng cho chung hoặc tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung cũng thuộc khối tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn cũng được coi là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc hình thành từ tài sản riêng.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình và thực hiện nghĩa vụ chung. Nếu vợ hoặc chồng không có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì tài sản đó mặc nhiên được coi là tài sản chung.
Đối với tài sản chung là bất động sản, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận; riêng việc định đoạt tài sản chung là bất động sản phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng.
Vì vậy, trong trường hợp căn nhà là tài sản chung, chồng chị Hảo về nguyên tắc phải ký vào giấy tờ bán nhà.
Tuy nhiên, pháp luật cũng cho phép một hướng giải quyết linh hoạt. Khoản 2 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau để xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định phải có sự đồng ý của cả hai.
Theo đó, nếu chồng chị Hảo không thể trực tiếp về Việt Nam để ký giấy bán nhà, anh có thể đến Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Việt Nam tại nước sở tại để lập và ký văn bản ủy quyền. Sau đó, văn bản này được gửi về Việt Nam để chị Hảo mang đến tổ chức hành nghề công chứng trong nước, yêu cầu công chứng viên chứng nhận tiếp vào bản gốc của hợp đồng ủy quyền.
Khoản 1 Điều 57 Luật Công chứng năm 2024 quy định rõ: Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng, mỗi bên có thể yêu cầu công chứng viên tại tổ chức mình lựa chọn chứng nhận phần việc của mình.
Sau khi hoàn tất, văn bản công chứng có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng viên ký và đóng dấu theo quy định (đối với văn bản điện tử thì phải có chữ ký số hợp lệ).
Khi văn bản ủy quyền đã được công chứng hợp lệ, chị Hảo có thể căn cứ vào giấy ủy quyền đó để thay mặt chồng ký kết hợp đồng chuyển nhượng và hoàn tất thủ tục bán nhà theo đúng quy định pháp luật.